Chả nhẽ chúng ta cứ mãi đi làm ô sin, hái dâu, trồng cỏ…

“Rõ ràng chúng ta vẫn loanh quanh với chuyện làm như thế, ăn như thế”, ông Phạm Minh Huân đối thoại trên Nông nghiệp Việt Nam.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội Phạm Minh Huân. Ảnh: Phạm Hiếu.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội cho rằng: “Trong quá trình phát triển có những lúc vui vẻ khi tỷ lệ tăng trưởng cao, tạo được nhiều việc làm, thu nhập cao, đời sống người lao động tốt nhưng cũng có những lúc gặp khó khăn, như giai đoạn hiện nay, vấn đề là giải quyết khó khăn đó như thế nào, chiến lược để thay đổi ra làm sao”.

Các tập đoàn cứ sà vào bất động sản thì Việt Nam mãi là nền công nghiệp làm thuê
Thưa ông, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, tỉ lệ người lao động thất nghiệp tăng cao đã có những tác động rõ rệt đến đời sống xã hội, tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng, Covid-19 chính là phép thử để từ đó Việt Nam tái cơ cấu lao động, đặc biệt là vấn đề tư duy để thích ứng với những biến cố, thích nghi với những thay đổi của xã hội trong bối cảnh lao động Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề phải bàn. Ông nghĩ sao?

Trước hết phải nhìn nhận, tác động của Covid-19 đối với nền kinh tế cực lớn. Theo Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2020 Việt Nam chỉ tăng trưởng 1,81%, đặc biệt quý II chỉ có 0,36%. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong 10 năm gần đây. Thậm chí nhiều quốc gia đã phải buông bỏ chỉ tiêu tăng trưởng để ổn định an sinh xã hội.

Thông thường, khi gặp một sự cố nào đó thì các doanh nghiệp trên thế giới đều có 2 cách làm. Một là phải cơ cấu lại bảng lương để hai bên chia sẻ với nhau đồng thời hi vọng rằng sẽ cùng vượt qua được biến cố đó. Hai là phải chấm dứt hợp đồng, sa thải lao động để giảm chi phí.

Ở Việt Nam thì những ngành bị ảnh hưởng trầm trọng nhất là dệt may, da giày, chế biến gỗ, các ngành du lịch, hàng không, lắp ráp điện tử… Thực tế, các doanh nghiệp vẫn phải áp dụng một trong hai cách trên, như các hãng hàng không chẳng hạn, họ buộc phải cho người lao động nghỉ 6 tháng không lương, đi làm chỉ hưởng lương tối thiểu, đó là sự chia sẻ để vượt qua khó khăn.

Qua sự tác động của dịch bệnh, có thể nhìn nhận ra 4 vấn đề của lao động Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất là mất việc, giảm giờ sẽ làm giảm thu nhập, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và gia đình của họ. Thứ hai về mặt thị trường lao động, cung và cầu sẽ không gặp nhau. Thị trường sẽ xuống đáy rồi sau đó mới ngóc lên từ từ, kể cả sau khi hồi phục thì khả năng người lao động tìm được việc làm theo xu hướng nâng cao thu nhập cũng rất khó.

Thứ ba, điều này rất quan trọng, theo tôi, người lao động sau cú sốc lớn này sẽ phải xác định lại tinh thần, tư tưởng của mình trong nền kinh tế thị trường. Có thế hôm nay mình có việc làm nhưng cũng có thể ngày mai mất việc.

Cho nên, vấn đề thay đổi tư duy là cần thiết. Họ phải tự trang bị cho mình tính đa dạng, hiểu biết, kiến thức, kĩ năng về nghề nghiệp để khi mình thất nghiệp ở nơi này thì có thể tìm việc ở nơi khác. Nói cách khác, người lao động phải đặt mình trong môi trường của thị trường, giỏi một nghề nhưng phải biết nhiều nghề.

Thứ tư là vấn đề về chính sách an sinh, hỗ trợ người lao động phải đa dạng và sát thực hơn. Đào tạo lại con người lao động như thế nào cũng phải có chính sách. Có thể nói rằng, trong bối cảnh doanh nghiệp, xã hội phức tạp hơn, chính sách đào tạo người lao động chưa thực sự sát với thực tiễn đã trở thành đề bài rất nan giải đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu cần phải đi vào thực tế.

Về cơ hội, tôi nghĩ, qua dịch bệnh có thể thấy việc ứng dụng công nghệ vào nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề đã giảm được chi phí. Nói cách khác, đây là cơ hội thực tế như chúng ta hay nói phát triển với nền cách mạng công nghiệp. Vấn đề mấu chốt nằm ở chỗ đào tạo lao động.

Thực tế cho thấy mặt bằng lao động của chúng ta chưa đáp ứng với cách mạng công nghiệp. Một lao động 40 – 45 tuổi, làm nghề may, làm da giày mỗi tháng lương 5 – 7 triệu đồng, bây giờ mà bảo họ chuyển đổi là một chuyện vô cùng khó.

Họ có thể không làm nông nghiệp nữa vì năng suất thấp nhưng họ chỉ bước lên làm may, gia công giày hoặc trong các xưởng chế biến chứ bảo họ áp dụng công nghệ vào công việc thì họ không đủ trình độ để làm. Cho nên bài toán cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lao động, chúng ta đã nói rồi, nhưng làm lại là vấn đề.

Phải xây dựng chiến lược, lộ trình. Nhưng vấn đề về cơ cấu không phải vì cái dịch này mà chúng ta mới đặt ra. Chúng ta đã từng nói trong các nghị quyết thì chúng ta nói rất hay nhưng vấn đề vẫn là cần một chiến lược cụ thể.

“Mấy tập đoàn của chúng ta cứ sa vào bất động sản, nếu thế thì Việt Nam mãi là nền công nghiệp làm thuê”. Ảnh: Phạm Hiếu.

Nói đến chính sách lao động, đã từng có những chính sách rất lớn, tốn rất nhiều tiền, tuy nhiên thực tiễn cho thấy đa số lao động Việt Nam vẫn ở trình độ thấp. Đào tạo nghề xong loanh quanh lại đi xuất khẩu lao động, trong khi đó, ở những khu vực đòi hỏi tay nghề cao chủ yếu phải sử dụng lao động nước ngoài… Liệu chính sách chưa thực sự hợp lý có phải là nguyên nhân chính tạo ra sự bất cập đó hay không, thưa ông?

Về vấn đề này hãy nhìn thực tiễn sẽ thấy rõ. Hãy nhìn thực tế, lao động tại các doanh nghiệp tư nhân, chiếm tới 90% nhưng lại rất yếu về vốn, trình độ quản lý, về năng lực, khoa học công nghệ…

Còn doanh nghiệp nhà nước, có mấy “ông” muốn mang dáng dấp vươn ra toàn cầu, trở thành những tập đoàn đa quốc gia để lấy được tiền của thiên hạ, thế nhưng khu vực xuất khẩu của chúng ta đang có giá trị sáng tạo ở mức thấp.

Lấy được tiền của nước ngoài cuối cùng bao gồm cả mấy ông nông dân, ông đưa cá, gạo, rau, các sản phẩm nông nghiệp đi xuất khẩu. Mà lĩnh vực này lại lắm rủi ro, trừ đi chi phí cũng chả còn lời lãi được bao nhiêu.

Cho nên, sản phẩm công nghiệp của chúng ta vẫn đang tập trung vào khu vực FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Tôi từng nói với ông Tổng Giám đốc của Tập đoàn Samsung rằng: “Trong khi cái đầu của các ông lớn rồi thì cái đầu của chúng tôi giờ đây vẫn rất là nhỏ”.

Thử nghĩ mà xem, chi phí trong 1 chiếc smartphone cao cấp của của Samsung khoảng 1.000 USD, trong đó chi phí cứng là 500 USD và chúng ta được hưởng khoảng 10% trong số này. Còn lại họ hưởng hết. Chúng ta đang làm thuê cho họ.

Từ Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia công nghiệp khác, chủ yếu chúng ta vẫn đang làm thuê cho họ. Đây là bài toán mà chúng ta cần xem xét nếu muốn có khu vực riêng. Mấy tập đoàn của chúng ta bây giờ cứ sa vào bất động sản chứ có làm công nghiệp đâu.

Đây là điều bất cập, ở chỗ, nếu không làm công nghiệp thì chúng ta sẽ mãi bị lệ thuộc, mãi làm thuê cho nước ngoài và liên quan đến đến vấn đề quản lý chất xám của người lao động Việt Nam.

Nếu so sánh công lao động Việt Nam đang làm việc ở các doanh nghiệp FDI, như Samsung chẳng hạn, người Việt cao nhất cũng chỉ khoảng 70 – 80 triệu đồng, trong khi lương lao động của họ khoảng 150 – 200 triệu. Điều tạo nên sự khác biệt đó tất nhiên là trình độ.

“Mình hay nói ngân sách, theo tôi, phải nói thẳng là thuế của dân, tiền của người dân đóng góp”. Ảnh: Phạm Hiếu.

Không phải cứ hô hào là xong, đã có những thất bại vì ý chí cao hơn nghiên cứu khoa học
Thưa ông, Việt Nam đang ở giai đoạn dân số vàng, có thể xem là “tài sản” lớn, nhưng như ông nói, chất lượng nguồn nhân lực chúng ta lại đang có những bất cập. Rõ ràng cũng đã có những chiến lược, chính sách, nhưng có quá nhiều “nút thắt” chưa được tháo gỡ. Nếu chúng ta không tận dụng được thời cơ, không sử dụng hết “tài sản” sẽ dẫn tới điều gì?

Với thời kỳ dân số vàng, có thể nói rằng chúng ta đang đứng trước cơ hội nhưng cũng rất nhiều thách thức song song. Theo tính toán, từ năm 2007 đến nay chúng ta bước vào thời kỳ dân số vàng và sẽ kéo dài đến khoảng năm 2030. Đây là thời kỳ mà nguồn nhân lực trẻ, có đủ khả năng để đóng góp cho xã hội…

Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đó như thế nào để đảm bảo chất lượng, sử dụng họ như thế nào để thực sự có hiệu quả. Về vĩ mô quốc gia, chúng ta đã xây dựng chiến lược nguồn nhân lực từ rất lâu rồi, không biết tốn hết bao nhiêu tiền của rồi, nhưng, theo như tôi biết thì chiến lược đó bây giờ vẫn còn đang nằm trong tủ.

Rõ ràng chiến lược nguồn nhân lực phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đào tạo như thế nào, phân bổ như thế nào, đánh giá như thế nào, bắt buộc phải có nghiên cứu khoa học, phải có thực tiễn, phải đặt ra những cột mốc để có chiến lược, con đường cụ thể, chứ không thể cứ hô hào là xong.

Nông nghiệp