Chủ tịch Hội đồng Thẩm định SGK Trần Đình Sử phải chịu trách nhiệm về bê bối của nhiều cuốn SGK hiện nay

Không riêng gì những bàn cãi trong nội dung của cuốn Tiếng Việt lớp 1 trong bộ Cánh Diều, hiện nhiều cuốn sách cũng đang được mạng xã hội lan truyền có chứa nội dung hết sức nhạy cảm đối với con trẻ: như bài học “Chữ số 4” với ví dụ “4 cái làn”…

Là chủ tịch Hội đồng Thẩm định SGK, thiết nghĩ thay vì thanh minh bài toán “4 cái làn” không có trong SGK do ông chủ biên, là một người có tâm có trách nhiệm với cương vị của mình, ông Sử nên truy tới cùng cuốn sách này do NXB nào in và biên soạn, chứ không thể vội vã phủi tay cho xong chuyện được. Và nếu như không có bài toán “4 cái làn”, liệu GS Sử có chịu đứng ra giái thích những tranh cãi, bức xúc của dư luận thời gian gần đây về cuốn sách Tiếng Việt lớp 1 mang tên Cánh Diều?

Chỉ mới cho ra mắt, bộ sách Tiếng Việt lớp 1 của Cánh Diều đã vấp phải không ít tranh cãi, bức xúc trước những nội dung hết sức khó hiểu vì dùng từ phương ngữ cũng như những ví dụ không mang tính nhân văn mà đầy bạo lực.

Bộ sách ấy đã từng dược 2 vị giáo sư là Trần Đình Sử và Nguyễn Minh Thuyết vỗ ngực tự hào nhận mình là Chủ biên. Giáo sư Trần Đình Sử là Chủ biên sách tiếng Việt, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết là Tổng chủ biên Sách Tiếng Việt 1 Cánh diều. Cả hai đều kiên quyết cho rằng mình đã dày công nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng, có tổng hợp từ xưa đến nay, từ nước ngoài đến Việt Nam và cả một hội đồng biên soạn giàu kinh nghiệm.

Hình ảnh bài học “Bốn cái làn” được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội.

Chính Giáo sư Sử cho biết “Trong quá trình thẩm định, tôi đã lật giở từng trang, xem từng câu chữ, từng hình ảnh minh họa”, vậy mà không hiểu sao lỗi của Sách Tiếng Việt 1 của nhóm Cánh Diều lại bị mọi người phanh phui be bét đến như vậy.

Trong cuốn sách này, có tới 46 bài/82 bài đọc là các văn bản sao phỏng từ các truyện ngụ ngôn nước ngoài, trong đó có 8 bài được tách ra thành 2 phần cho 2 bài. Chính điều này đã khiến nội dung bài học bị hiểu nhầm, lệch lạc về nội dung. Đến người lớn còn mơ hồ thì trẻ em sẽ phải hiểu như thế nào khi phải gán ghép bài học từ hôm trước với bài học hôm sau? Nội dung của bài trước còn khó hiểu thì làm sao trẻ có thể ghi nhớ để tiếp thu tới ngày hôm sau?

Giải thích cho vấn đề này, GS Sử biện minh rằng: các bài học gây tranh cãi trong SGK tiếng Việt 1 đều được chia làm 2 phần trong sách và được mở ngoặc đơn đánh số (1), (2) thể hiện cho 2 phần. Tuy nhiên, độc giả đã đọc không kỹ, chỉ đọc một nửa câu chuyện, rồi chụp ảnh đăng tải lên mạng với nội dung chỉ trích, nên gây ra nhiều hiểu lầm. “Tuy nhiên, một nửa câu chuyện cũng có ý nghĩa riêng, không bài học nào là vô nghĩa”.

Thực tế, hầu hết các bài học gây tranh cãi đều có nội dung khó hiểu chứ không hề “có ý nghĩa riêng” như lời GS Sử đã nói.

Về việc sách Tiếng Việt 1 sử dụng từ phương ngữ gây khó hiểu, SG Sử cho rằng những từ như “gà nhí”, “gà nhép”, “chả”, “tợp” đều có trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, nên không thể nói không thông dụng. Xin thưa với GS, từ điển Tiếng Việt là từ điển mà trong đó sẽ giải nghĩa tất cả những từ ngữ được sử dụng ở VN, chứ không phải từ điển giải nghĩa tất cả những từ ngữ thông dụng ở VN. Do đó, từ điển tiếng Việt sẽ bao gồm cả những từ phương ngữ mà đến người lớn còn không hiểu nghĩa nếu chưa được biết qua.

Các bài học gây tranh cãi trong SGK tiếng Việt lớp 1, bộ Cánh diều.

Mới vào lớp 1, liệu các bé có đủ “bề dày kinh nghiệm” để dung nạp cả những từ thông dụng và từ địa phương của từ đó vào não bộ hay không? Thậm chí, các ông yêu cầu, giáo viên phải giải thích từ ngữ cho các bé. Một cuốn sách không thể hiện được hết ý nghĩa của từ ngữ, phải có giáo viên giải nghĩa mới có thể hiểu liệu cuốn sách đó có bình thường, có đáng học?

Còn về các bài văn xuôi tiếng Việt, sách không hề ghi tên tác giả hoặc thậm chí đề là “vô danh”, văn vẻ lặp đi lặp lại nhiều câu ngô nghê, nội dung ít tính giáo dục. Thậm chí nội dụng cốt truyện còn có các yếu tố bạo lực, thói xấu, không nên truyền dạy cho trẻ như (đe doạ, bắt nạt, lừa đảo, lười biếng, sinh đẻ).

Ngôn từ thì sử dụng bất thường, không thực tế: quạ ‘quà quà”, sẻ ca riri, cho ve tí gì, chả có gì, (đẹp) mà chẳng khôn, giúp má sắp cơm, quạ kiếm cớ la cà, cua khệ nệ ôm yếm, chó thì mổ mổ, gà thì la liếm…

Nhẽ ra, trước những tranh cãi và bức xúc của dư luận, giáo sư Sử nên đứng ra tiếp thu mọi thứ, để rồi cái nào đúng thì tiếp nhận, cái nào sai thì phản biện. Nhưng không, giáo sư kiên định bảo vệ mọi thứ mà mình đã tạo ra, và cho rằng tất cả ý kiến dư luận đều sai và các ông luôn đúng.

Thậm chí, GS còn công khai lên án dư luận, chọn đứng một mình để phản pháo: “Hãy để cho con trẻ, thầy cô và toàn ngành giáo dục yên ổn nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Kết quả của chương trình sẽ được trả lời trong cuối năm học”.

Vâng, phải chăng dư luận đã “tấn công dữ dội” bộ SGK của ông, khiến ông phải năn nỉ họ “để yên”? Dư luận có quá khắt khe hay không, hay chỉ muốn thế hệ mầm non có thể tiếp thu được những ngôn ngữ đẹp nhất, phổ biến nhất, được học những bài học dễ hiểu nhất, nhân văn và trong trẻo như chính tâm hồn của các em?

Rất may, Bộ trưởng Bộ GDĐT Phùng Xuân Nhạ đã nhanh chóng chỉ đạo kiểm tra, làm rõ và có phương án xử lý phù hợp vấn đề này. Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ cũng vừa thay mặt lãnh đạo Bộ GDĐT ký công văn gửi Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 1 về việc rà soát, báo cáo về nội dung sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 1.

Đến khi có kết luận, có lẽ đúng sai sẽ rõ, nhưng việc Giáo sư chọn đứng về một phía, tuyên chiến với dư luận thật sự không phải lựa chọn khôn ngoan.

Bài viết liên quan