Mất gần 525 triệu cho 6 năm học Bác sĩ đa khoa, học phí cao sẽ là một cái hố bẫy lớn!

Bất cứ ai muốn trở thành bác sĩ, trước hết phải xem xét chi phí thời gian, sau đó là chi phí về tiền bạc.

Mấy ngày trước, Trường ĐH Y dược TP.HCM công bố đề án tuyển sinh năm 2020, theo đó để một sinh viên có được tấm bằng bác sĩ đa khoa 6 năm sẽ phải đóng gần 525 triệu tiền học phí.
Tôi cho rằng học phí cao sẽ là một cái hố bẫy lớn!

Do không có những số liệu thống kê trong nước, nên tôi sử dụng mô hình tham chiếu là hệ thống đào tạo y khoa ở Mỹ, nơi có 151 trường đại học y khoa đắt đỏ nhất thế giới, nhưng đến nay đã có 4 trường tuyên bố miễn học phí, để góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt bác sĩ đang ngày càng trầm trọng.

Đầu tiên tôi muốn nói về thời gian học y.

Ở Mỹ, để trở thành một bác sĩ hệ nội khám bệnh bằng ống nghe và điều trị bằng kê đơn thuốc, cần phải học 4 năm lấy bằng cử nhân, thêm 4 năm lấy bằng bác sĩ, học tiếp 3 năm nội trú bệnh viện; tổng thời gian học = 4+4+3 = 11 năm.

Bác sĩ phẫu thuật lồng ngực = 4 năm cử nhân + 4 năm bác sĩ + 5 năm nội trú phẫu thật tổng quát + 2 năm nội trú phẫu thuật lồng ngực = 15 năm.

Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh = 4 năm cử nhân + 4 năm bác sĩ + 5 năm nội trú chẩn đoán hình ảnh tổng quát + 2 năm chẩn đoán hình ảnh chuyên khoa = 15 năm.

Mô hình học 11 – 15 năm phổ biến ở tất cả các nước phương Tây, cũng như hầu hết các nước châu Á, ngay cả các quốc gia Đông Nam Á cũng đào tạo theo mô hình này.

Việt Nam đào tạo theo cách khác.

Giai đoạn 1: Để trở thành bác sĩ được phép độc lập khám chữa bệnh ở mức thấp nhất, cần học 6 năm lấy bằng bác sĩ đa khoa, thêm 1 năm lấy chứng chỉ chuyên khoa định hướng, thêm 1,5 năm đào tạo thực hành lấy chứng chỉ hành nghề; tổng thời gian = 6+1+1,5 = 8,5 năm.

Giai đoạn 2: Để trở thành bác sĩ có chuyên môn phù hợp, cần phải học tiếp chuyên khoa cấp I mất 2 năm. Một loại hình đào tạo tương đương dành cho những người xuất sắc hơn, là học nội trú hoặc cao học, sau tốt nghiệp có bằng thạc sĩ, thời gian học 3 năm, chưa kể phải ôn thi mất 1 năm mới có cơ may đỗ.

Giai đoạn 3: Để trở thành bác sĩ chuyên sâu hơn, cần phải học chuyên khoa cấp II mất tối thiểu 2 năm nữa, hoặc học nghiên cứu sinh 4 năm lấy bằng tiến sĩ.

Như vậy thời gian học y ở Việt Nam = 8,5 + 2 (hoặc 3) + 2 (hoặc 4) = 12,5 (hoặc 15,5) năm học.

Tuổi bác sĩ bắt đầu tính từ con số 30!

Ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy, tuổi bác sĩ bắt đầu từ con số 30, tức là phải sau 30 tuổi bác sĩ mới có thể làm việc độc lập, đó là con số tối thiểu gắn với điều kiện sau khi tốt nghiệp phổ thông phải học đại học ngay, quá trình học y khoa diễn ra suôn sẻ nhất, được học liên tục mà không bị gián đoạn ngày nào.

Bây giờ tôi nói đến chi phí tiền bạc.

Theo ước tính của Hiệp hội các trường Đại học Y khoa Hoa Kỳ (AAMC), học phí trung bình cho 4 năm học lấy bằng cử nhân y khoa là 207.866 đô la. Trường Y của Đại học New York số tiền nộp học phí 4 năm là 220.000 đô la. Các trường công lập ở Mỹ dao động từ 200.000 – 240.000 đô la.

Thu nhập của một gia đình Mỹ khoảng 50.000 đô la nên không thể đóng học phí.

Không có tiền, sinh viên y ở Mỹ chỉ còn cách là đi vay, phần lớn sinh viên vay các ngân hàng thương mại với lãi suất lên tới 10% mỗi năm. Theo thống kê của AAMC trong năm 2017, có khoảng 75% sinh viên y khoa nợ ngân hàng, số tiền nợ trung bình sau 4 năm lấy bằng cử nhân vào khoảng 195.000 đô la. Công bố mới nhất của Forbes, trong số bác sĩ nhận bằng tốt nghiệp từ năm 1995, đến nay vẫn còn 50% đang nợ ngân hàng khoản tiền đóng học phí.

Có thể so sánh với ngành nghề khác cũng học 4 năm lấy bằng cử nhân.

Theo số liệu từ Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, một sinh viên theo học ngành nghề khác tốt nghiệp 4 năm cử nhân, đi làm lương khởi điểm mỗi tuần tính trung bình vào khoảng 1.263 đô la, mỗi năm thu nhập 65.676 đô la.

Như vậy, tính thô theo cách đơn giản nhất, thì sinh viên y khoa phải học dài hơn 4 năm mới có bằng bác sĩ, họ sẽ mất cơ hội kiếm 4×65.676 = 262.704 đđô la so với bạn bè không học y. Chưa kể số tiền học phí phải đóng thêm trong 4 năm ấy, theo ước tính của AAMC = 50.000×4 = 200.000 đô la nữa.

Đó là chưa kể 3-7 năm học nội trú.

Nếu tình giờ học thực tế, sinh viên y khoa phải học 80 giờ mỗi tuần và một năm học 48 tuần, bác sĩ nội trú học 80 giờ mỗi tuần và một năm học 50 tuần; nghĩa là công sức tính theo giờ sẽ gấp hơn 2 lần so với lao động thông thường là 40 giờ mỗi tuần. Giả sử số tiền làm việc tương đương với lao động phổ thông, con số làm tròn khoảng 30 đô la mỗi giờ theo Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, thì cơ hội kiếm tiền của sinh viên y khoa đã bị mất đi do thời gian dành cho học tập là 1,761,600 đô la.

Bù lại: sinh viên y khoa phải chọn chuyên ngành kiếm được nhiều tiền!

Số liệu thống kê năm 2019 trên Medscape, ở Mỹ trung bình nam bác sĩ kiếm được 372,000 đô la và nữ bác sĩ kiếm được 280,000 đô la mỗi năm.

Nhưng,…

Có sự khác biệt rất lớn giữa các chuyên ngành, ví dụ bác sĩ nhi khoa thu nhập trung bình 210,678 đô la mỗi năm, trong khi bác sĩ phẫu thuật lồng ngực lại kiếm được số tiền 762.846 đô la.

Học y phải mất hơn một thập kỉ học tập với cường độ học gấp đôi các trường khác, cùng với những món nợ ngân hàng từ thời kì sinh viên, cơ hội kiếm tiền như bạn bè cùng trang lứa bị mất đi trong từng ấy năm học, đó là lí do để sinh viên y có xu hướng chỉ chọn những chuyên ngành kiếm được nhiều tiền. Bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu và bác sĩ ở các khu vực nông thôn, do thu nhập không cao, đã dần trở nên thiếu trầm trọng.

Thống kê của Chính phủ Hoa Kỳ (US goverment statatistics) ở thời điểm hiện tại 1/3 tiểu bang có số bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu dưới 50% so với yêu cầu. Ví dụ:

– Connecticut = 15%

– Missouri = 30%

– Rhode Island = 33%

– Alaska = 35%

– North Dakota = 37%

– Nebraska = New Mexico = Florida = 42%

– New York = 43%

– Washington = South Dakota = 45%

– North Carolina = D.C = 50%…

“Bác sĩ đang dần biến mất ở Mỹ – The doctor is disappearing in America!”
Theo báo cáo của AAMC năm 2019, muốn đảm bảo công bằng chăm sóc sức khỏe giữa các chủng tộc, vùng miền địa lí, khu vực bảo hiểm y tế; thì hệ thống y tế Mỹ cần phải có thêm 95.900 bác sĩ.

AAMC dự báo đến năm 2032 nước Mỹ sẽ thiếu từ 46.900 – 121.900 bác sĩ:

– Bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu thiếu 21.100 – 55.200

– Bác sĩ chuyên khoa thiếu 24.800 – 65.800

– Chuyên gia y tế thiếu 1.900 – 12.100

– Chuyên gia phẫu thuật thiếu 4.300 đến 23.400

– Chuyên gia khác như giải phẫu bệnh, chẩn đoán hình ảnh, tâm thần, thần kinh… thiếu từ 20.600 đến 39.100 bác sĩ.

Tiến sĩ Richard Olds, giám đốc điều hành của trường đại học y khoa Caribbean đã phải cay đắng nhận định, do tình trạng thiếu bác sĩ mà hệ thống y tế ở Mỹ giống như chữa cháy rừng, bệnh nhân chỉ được điều trị khi họ thực sự có bệnh nặng.

“Vấn đề của nước Mỹ là không có đủ bác sĩ ở đúng nơi và đúng chuyên khoa phù hợp,” – Tiến sĩ Olds chia sẻ – “đáng chú ý, các bác sĩ có xu hướng co cụm ở các thành phố lớn, và ngày càng khan hiếm ở các vùng nông thôn và các cộng đồng dân cư nhỏ khác, như cũng như khan hiếm một phần ở một số bộ phận dân cư trong các thành phố lớn”.

Nước Mỹ đang trở thành tâm điểm của đại dịch COVID-19, với gần 2 triệu người mắc, hơn 111 ngàn người tử vong, khoảng 1,1 triệu bệnh nhân đang phải điều trị trong đó có 17 ngàn bệnh nhân nặng. Vậy nhưng, số bác sĩ tuyến đầu điều trị hiện chỉ có dưới 65 ngàn người, cùng với 550 ngàn điều dưỡng chăm sóc quan trọng.

Thiếu hụt tài nguyên như máy thở và giường bệnh là vô cùng tồi tệ, nhưng thiếu hụt bác sĩ và y tá điều trị COVID-19 mới là vấn đề nghiêm trọng hơn rất nhiều, bởi bác sĩ và y tá là những người quyết định sự sống chết của bệnh nhân nằm trên những chiếc giường đó. Đại dịch COVID-19 cho thấy cuộc khủng hoảng hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Mỹ là sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ các chuyên gia, thiếu bác sĩ ICU, thiếu bác sĩ chuyên sâu và nhân viên bệnh viện.
Ở Mỹ không ít sản phụ phải đi đẻ nhờ!

Mattelyn Lee, một sản phụ ở Kilmarnock thuộc bang Virginia, do khoa sản ở bệnh viện Rappahannock General không có bác sĩ, Lee đã phải lái xe đi gần 130km đến Richmond xin đẻ nhờ. Một sản phụ khác không được may mắn như vậy, cô Melissa Hudnall cũng đi đẻ nhờ nhưng chưa kịp đến bệnh viện, cô sinh 1 bé gái ngay trên chiếc ô tô Chevy của mình.

Trường hợp của cô Jessica Burchett còn vất vả hơn nhiều. Burchett mang thai song sinh, cô bị sốc nhẹ khi nghe bác sĩ thông báo tin này, nhưng điều khiến cô sợ hãi là 2 em bé trong bụng mắc phải hội chứng truyền máu song sinh rất nguy hiểm. Vì phải chăm sóc chuyên sâu, trong khi thị trấn Barling ở Arkansas không có bác sĩ sản, Burchett đã phải tự lái xe với quãng đường 260km đi khám bác sĩ và đẻ nhờ.

Lee, Hudnall và Burchett là 3 trong số rất nhiều phụ nữ không được chăm sóc sản khoa ở Mỹ. Báo cáo năm 2017 của Các trường Đại học Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) cho thấy một nửa nước Mỹ thiếu bác sĩ sản khoa. Tình trạng thiếu hụt diễn ra ở khắp mọi nơi. Ngay cả các thành phố như Detroit, St. Louis, Dallas, Miami và Los Angeles cũng phải đối mặt với những thiếu hụt nghiêm trọng. Có tới 22 tiểu bang bao gồm Illinois, Maryland, Missouri, Washington và New Jersey hiện tại trong chế độ khủng hoảng “Báo động đỏ”, số lượng bác sĩ sản không đủ để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.

Columbia có 1 bác sĩ sản và 2 bác sĩ gia đình nghỉ việc từ năm 2003, từ đó đến nay phụ nữ có thai ở Columbia phải lái xe đi gần 100km để khám sản và đẻ nhờ. Tình trạng còn tồi tệ hơn ở bang láng giềng Kentucky, kể từ năm 2001, có tới 71 trong số 120 quận không bác sĩ, mỗi năm ít nhất 3000 phụ nữ mang thai phải tranh cướp với nhau để có được bác sĩ hoặc nữ hộ sinh đỡ đẻ. Rashelle Perryman, một sản phụ đã phải tự lái xe đi quãng đường hơn 70km sinh con nhờ, trớ trêu thay, cô chính là giám sát viên y tá của khoa sản Bệnh viện Crittenden thuộc quận Marion, bang Kentucky.

Theo ACGO, năm 2020 Mỹ thiếu 8000 bác sĩ sản, dự kiến đến năm 2050 sẽ thiếu tới 22.000 trong khi sản khoa là một lĩnh vực hái ra tiền.

Nguyên nhân gây thiếu bác sĩ ở Mỹ: nhiều ý kiến cho là học phí đào tạo y khoa quá cao!
Tôi cho rằng, đào tạo y khoa với học phí quá cao rất có thể sẽ tạo ra những bác sĩ móc túi, bệnh nhân sẽ phải trả những hóa đơn thái quá, bác sĩ và người bệnh sẽ chẳng bao giờ hài lòng với nhau, chất lượng chuyên môn sẽ ngày càng giảm xuống.

Ví dụ điển hình như câu chuyện thiếu bác sĩ sản khoa ở Virginia kéo dài suốt 20 năm qua chưa có giải pháp, riêng năm 2003 có tới 766 trẻ sơ sinh chết, trong khi những hóa đơn y tế leo thang khủng khiếp, tạo nên cái vòng luẩn quẩn, nó khiến cho 1 trong số 7 phụ nữ ở bang này phải quyết định ngừng sinh đẻ, các vụ kiện tụng cũng gia tăng không ngừng theo khảo sát của ACGO.

Trong đại dịch COVID-19 ở Mỹ đã xuất hiện những hóa đơn y tế không tưởng.

Như trường hợp của anh Robert Dennis, giáo viên cấp ba tại thành phố Denver, bang Colorado, nhận hóa đơn điều trị sau khi khỏi Covid-19 với số tiền lên tới 840.386 đô la, tương đương gần 20 tỉ tiền Việt.

Tôi không lạ với những con số đó, bởi ở Mỹ giá dịch vụ y tế được dựng đứng theo chiều dọc, ví dụ giá siêu âm ổ bụng có thể 37 đô la tương ứng 860.000 đồng tiền Việt, nhưng có cơ sở lên tới 1.816 đô la tương ứng với 42 triệu đồng.

Giáo dục y tế phải là giáo dục ưu tú.

Trên toàn thế giới, sinh viên trường y bao giờ cũng phải là những người giỏi nhất, thông minh nhất và tham vọng nhất, đặc biệt là tham vọng trở thành bác sĩ.

Để chọn được những sinh viên ưu tú, mỗi quốc gia sẽ có những tiêu chí tuyển chọn, với các ngưỡng cụ thể. Ở Việt Nam, ngưỡng tuyển chọn là điểm số đầu vào trong kì thi tuyển sinh, điểm số ấy luôn cao nhất so với các trường đại học khác.

Ví dụ Đại học Y Hà Nội, điểm thi đầu vào 3 môn toán – hóa – sinh gần như tuyệt đối, năm 2017 điểm hệ bác sĩ đa khoa 29,25 điểm, nghĩa là chỉ một môn 9 điểm chắc chắn trượt.

Điều đó cũng dễ hiểu bởi không ai muốn đặt tính mạng của mình vào tay một bác sĩ dốt.

Nhưng,…

Khi tiền học phí quá cao so với thu nhập bình quân của người dân, thì học phí sẽ trở thành một tiêu chí chính, nghĩa là số sinh viên giỏi sẽ giảm xuống và số sinh viên có tiền theo học y sẽ tăng lên.

Không khó để nhận ra, ở thời điểm hiện tại lương khởi điểm của bác sĩ chưa đến 4,9 triệu mỗi tháng, trong khi sinh viên học đại học y phải đóng 7,2 triệu đồng; đó là điều vô lí mà tôi tin rằng sẽ không ít bác sĩ theo mô hình đào tạo ấy sẽ trở thành những kẻ móc túi bệnh nhân.

Tôi cho rằng, bác sĩ là một công việc đặc biệt nên tuyển chọn và đào tạo y khoa cũng phải có cơ chế đặc biệt, nếu học phí đào tạo bác sĩ quá cao, chắc chắn chất lượng sinh viên y khoa sẽ giảm, hệ quả là sẽ có nhiều bác sĩ tìm cách móc túi bệnh nhân.

Nước Mỹ sau nhiều năm duy trì mô hình đào tạo y khoa với học phí cao khủng khiếp, thì nay đã phải trả giá bằng tình trạng thiếu bác sĩ trầm trọng, giá cả dịch vụ y tế ở mức không tưởng, trong khi chất lượng chuyên môn y khoa ở Mỹ không thực sự đáng tin tưởng như người Việt vẫn ám thị, các vụ kiện tụng bác sĩ ở Mỹ cũng là nỗi kinh hoàng cho bất cứ ai làm ngành y ở quốc gia này.

Trương Y của Đại học New York đã dẫn đầu phong trào miễn học phí cho sinh viên!

BS. TRẦN VĂN PHÚC