Xin thưa 2 Giáo sư Trần Đình Sử và Nguyễn Minh Thuyết, thật không thể đùa cợt được nữa rồi!

Tôi đọc tất cả những bài trả lời phỏng vấn của 2 ông trên một số tờ báo về sách tiếng Việt, vui mừng nhất là cả hai ông đều tự hào nhận mình là Chủ biên sách tiếng Việt (Giáo sư Trần Đình Sử) và Tổng chủ biên Sách Tiếng Việt 1 Cánh diều (Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết).

Trên các trả lời, các ông đều khôn khéo, mạnh mẽ, cương quyết, kiên định bảo vệ mọi thứ mà dư luận xã hội lên án, tất tần tật dư luận lên án đều sai, các ông đúng, rất đúng, sáng tạo vì có nghiên cứu, có cân nhắc, có tổng hợp xưa nay, có cả hội đồng biên soạn cứng cựa…

Bây giờ, tôi trân trọng và từ tốn trao đổi thẳng với 2 ông như sau (chỉ là tóm tắt):

1. Chuyện bài toán “ 4 cái làn” mà các ông cho rằng không có trong sách giáo khoa nào do các ông chủ biên, đúng thế, và cho đó là bịa đặt thì sai hoàn toàn. Nó có trong sách tham khảo “ Vở bé làm quen với chữ số” ( ảnh kèm)/ Và các ông nói, các ông chỉ biết sách giáo khoa, các sách khác các ông không biết. Ơ kìa, thì ít nhất nếu có chút lương tâm, các ông phải giật mình, các ông phải truy cho ra, ai là người kí cho ra sách “ 4 làn” này chứ, nhà sách Minh Thắng là ai để cho ra cuốn sách này? Hoặc có quyền lợi gì mà say mê giới thiệu cuốn sách này? Là một nhà giáo dục phải đau nếu đâu đó sai chứ, sao phủi tay nhanh thế?

2. Các ông nói các ông đã xem xét cẩn trọng, đọc từng dòng, từng trang tiếng Việt/ Vâng. Nhưng liệu các ông sẽ nghĩ thế nào khi lỗi của Sách Tiếng Việt 1 của nhóm Cánh Diều lại be bét như thế này không? Một bạn đọc gửi cho tôi sau khi bỏ nhiều thời gian đọc:

1) Về văn bản:

– 46 bài/82 bài đọc là các văn bản sao phỏng từ các truyện ngụ ngôn nước ngoài , trong đó có 8 bài được tách ra thành 2 phần cho 2 bài, làm lệch lạc về nội dung.

– 02 bài văn vần, trong đó có bài vè nói ngược, kiểu “Chó thì mổ mổ”. Vắng bóng thơ, đồng dao, ca dao…

– Còn lại là các bài văn xuôi tiếng Việt, không có tác giả hoặc loại tác giả “vô danh”, văn vẻ lặp đi lặp lại nhiều câu ngô nghê, nội dung ít tính giáo dục.

Việc lựa chọn văn bản như trên dẫn đến những hạn chế về nội dung và ngôn ngữ diễn đạt của sách, như nhiều người đã chỉ ra.

2) Về nội dung:

– Có gần 50% các bài đọc dựa trên các cốt truyện có nội dung liên quan đến các yếu tố bạo lực, thói xấu, hoặc xa lạ với trẻ (đe doạ, bắt nạt, lừa đảo, lười biếng, sinh đẻ), không có tính giáo dục.

– Các nhân vật chủ yếu trong bài đọc chủ yếu có quan hệ không thân thiện (dê đen- dê trắng, quạ – sẻ, hổ- thỏ, thỏ- rùa, ve – gà, gà nhí -quạ, cò – quạ, chó – quạ, quạ -gà, cua- cò -cá, chuột út – mèo, chuột út – gà trống, chồn – gà rừng, cá măng- cá mập, thợ săn – vượn, lừa – thỏ – cọp v.v), hoặc không có quan hệ gì trong thực tế để liên tưởng (thỏ – cún – vượn)…

– Các hoạt động, cảm xúc chủ yếu của các nhân vật này là: sợ (thống kê sơ bộ ở mấy bài đã khoảng chục lần), lo, ăn thịt, doạ, dữ, dám, giả vờ, la, than, cuỗm, quắp, tợp, tha, la, cắn, mổ, nhá, chộp, tóm cổ, kẹp cổ, nuốt mồi, bắt, chén, hùng hục, phàn nàn,than thở, lầm rầm, van xin, than thở, liếm, la liếm, vùng vằng, lem lẻm, cằn nhằn, gật gù..

3) Về ngôn từ:

– Dùng quá nhiều các từ ngữ phương ngữ, khẩu ngữ, từ ngữ ít dùng: gà nhí, gà nhép, sẻ ri, ca ri ri, pianô, xe téc, nhá cỏ, nhá dưa, quà quà, chả (lo), tí gì, vù, vọt, hí hóp, la liếm, tỏ vẻ, thô lố, ngó, ngộ, nom, ướt nhẹp, dăm (nhà)…

– Dùng nhiều kết hợp bất thường: quạ ‘quà quà”, sẻ ca riri, cho ve tí gì, chả có gì, (đẹp) mà chẳng khôn, giúp má sắp cơm, quạ kiếm cớ la cà, cua khệ nệ ôm yếm, chó thì mổ mổ, gà thì la liếm…

– Dùng nhiều câu quá dài (Khỉ đi thăm bà. Khi đi nó hứa sẽ đem về đủ thứ cỏ lạ hoa thơm làm quà cho thỏ và nhím. Cả nhà Nga đi phố, ghé nhà dì, nghe pi a nô. Giá bà ra phố chơi, Bi đỡ nhớ bà, nhớ bố mẹ) hoặc kiểu câu không thông dụng (quà là rổ khế, rổ mơ, cá rô, cá quả. Cò chả đáp gì)

– Một số mẫu câu lặp lại đơn điệu ở nhiều bài, ví dụ X có Y… (Bề có cá, có cỏ. Hà có ghế gỗ, ba Hà có ghế da. Bờ Hồ có ghế đá. Cỗ có giò, có gà. Hồ có cá mè, ba ba. Nhà có na, nho, khế. Nhà bà có gà, có nghé. Gà có ngô. Nghé có cỏ, có mía. Bi có phở. Bé Li có na. Bố có cà phê….).

3. Kho tàng văn học Việt Nam ở đâu trong bộ sách của các ông, hay các ông cố ý né tiền bản quyền tác giả?

Tôi nói thêm lần nữa với hai ông: Với con trẻ bước vào lớp 1, ngôn ngữ giao tiếp, học, đọc là một ưu tiên hàng đầu. Ngay từ mẫu giáo, bố mẹ, cô giáo đã phải dạy, uốn nắn, chỉ bày từng từ, từng câu, cách gọi, cách nói, cách xưng hô. Đến khi vào lớp 1, chữ đầu tiên, câu đầu tiên trong sách cũng phải thế, hết sức cẩn trọng, hết sức sạch sẽ, hết sức trong sáng. Tuổi các cháu là tuổi học theo, nói theo, rất dễ thấm sâu vào tư duy, vào ý nghĩ, vào cảm xúc. Nếu bỏ qua vẻ đẹp của ngôn từ, bỏ qua sự tinh tế của câu chữ, bỏ qua cảm xúc, ngữ điệu văn của từng câu, từng đoạn văn, chỉ chú ý đến thao tác kĩ thuật từ mới, thì chắc chắn không chỉ thất bại mà nguy hiểm.

Nhà biên soạn sách không thế máy móc áp từ mới vào bất cứ câu nào, đoạn văn nào, miễn là phù hợp, hơn thế, hơn thế nữa, những câu, đoạn văn, khúc thơ có sự xuất hiện từ mới phải được lựa chọn vô cùng công phu, bảo đảm những câu văn thật nuột nà, ý tứ thật nhân văn, đoạn văn phải diễn đạt thật trong sáng, thật gần gũi, gần gũi ở mức mà các cháu đọc lên, ngân lên là thuộc ngay, thích ngay, thuộc và thích đã thì mới bắt đầu bước phân tích từ mới. Chúng ta dạy chữ, dạy kiến thức cho con trẻ không phải là cách sắp đặt chữ vào đầu, mà đưa chữ, đưa kiến thức vào đầu các con, vào tư duy các con, muốn thế, “ phương tiện” chuyên chở phải thật ngọt ngào, thật lung linh, thật lôi cuốn, để không chỉ các con nhận mặt được từ mới, mà còn là cách để các con bổ sung nhận thức mình về cảm quan, về xúc cảm, làm giàu tâm hồn, mỗi tiết học như thế nó gần gũi, thương mến, lôi cuốn và sống động, học là nhớ luôn.

Như đã nói, chọn câu, đoạn văn, khổ thơ đưa vào sách nhằm chuyên chở từ mới cho các con là phải hết sức kĩ. Trước khi nghĩ tới từ mới, thì đoạn văn đó, khổ thơ đó phải đẹp, đẹp cả ngôn ngữ, đẹp cả nội dung, đẹp cả đạo đức. Không thể dùng những câu chữ với thứ ngôn ngữ hàng chợ, thứ ngôn ngữ bông phèng, thứ ngôn ngữ bỗ bã để chuyển tải từ mới. Kho tàng văn hoá dân gian, thơ ca, hò vè, văn học xưa nay ở nước ta tha hồ lựa chọn, và biết bao nhiêu câu, đoạn, khổ thơ hay, hay và trong trẻo và gần gũi, tại sao lại phải lấy từ văn học nước ngoài, tại sao lại phải “ phỏng theo”? Một nhà biên soạn sách phỏng theo nguyên tác một nhà văn lớn mà dễ thế sao? Văn chương trước khi đưa ý, đưa chuyện, đưa đạo tới người xem là ngôn từ, ngôn từ không hay, ngôn từ khô khốc, vô cảm như người ta đang làm theo cách “ phỏng theo” liệu lợi hay hại? Biết chữ nhưng lại biết thêm những ngôn từ xấu, ý tứ xấu thì biết chữ làm gì? Đây là cơ hội cho con trẻ không chỉ học chữ mà còn tiếp nhận văn hoá dân tộc, tại sao không làm?

Vốn chữ, nghĩa của từ Việt phổ thông nó phong phú, nó đủ sức chuyển tải mọi thứ trong câu, trong đoạn văn, khổ thơ, tại sao phải dùng phương ngữ. Tại sao lại phải ép học sinh học phương ngữ khi vốn từ vựng Việt đang rất phong phú và quý giá? Đó sự là sự áp đặt khiên cưỡng, tai hại, cần phê phán và loại bỏ.

Nếu có thời gian, có thể, ở buổi học thêm, ở cuối mỗi tiết học, thầy cô có thể nêu ra cho học sinh tham khảo thêm một số từ ngữ phổ thông nhưng ở các địa phương, vùng miền trong nước lại dùng từ khác để gọi tên, như thế là cách để bổ sung vốn từ cho các con. Chứ dứt khoát không thể dùng phương ngữ thay thế từ phổ thông.

4. Ai đã lệnh cho các cơ sở giáo dục quán triệt giáo viên im lặng, huỷ diệt ý kiến cá nhân, không like, không thả tim, không comment vào các trao đổi, bài viết về Sách Tiếng Việt 1 trên mạng xã hội?

Tạm thời thế đã, mãi viết, cá có mùi cháy rồi.

Bài viết liên quan